Notice: Giao diện không có header.php is deprecated since version 3.0.0! Hiện không có giải pháp thay thế. Hãy định nghĩa mẫu header.php trong giao diện của bạn. in /home/hihihaha/ephonetelecom.com/wp-includes/functions.php on line 4597
Những Điều Cần Biết Về Miệng Và Môi Trong Nhân Tướng Học Những Điều Cần Biết Về Miệng Và Môi Trong Nhân Tướng Học

Những Điều Cần Biết Về Miệng Và Môi Trong Nhân Tướng Học

Cách xác định nét tướng khuôn mặt: Miệng và môi trong nhân tướng học.

1. Các đặc ngữ về Miệng – Miệng Và Môi Trong Nhân Tướng Học

Về mặt quan sát, Miệng và Môi được xem là một cơ cấu duy nhất mệnh danh là xuất nạp quan. Danh xưng này là do người ta cho rằng Miệng vừa là cơ quan thâu nạp thực phẩm từ bên ngoài vào để nuôi cơ thể vừa là quan sát ra mệnh lệnh để sai khiến người khác hoặc truyền đạt ý tưởng của mình đến tha nhân. Trong năm cơ quan quan trọng của khuôn mặt, Miệng là một thành phần khá quan trọng.

Tướng pháp cổ điển Trung hoa thường có thói quan địa lý hóa khuôn mặt, gán cho các danh xưng đặc biệt về các địa danh, nên trong sô bốn dòng sông tưởng tượng trên mặt là Tứ đậu, Miệng được người ta gọi Hà đậu, đứng đầu Tứ đậu. Hà đậu trong ý nghĩa này cần phải sâu, rộng tươi tắn mới gọi là đắc thế. Nếu Môi trên Môi dưới bất quân xứng hoặc là thái quá hoặc bất mỏng là kẻ vãn niên vô phúc, tho mạng ngắn ngủi.

Về mặt ngũ tinh, Miệng được mệnh danh là Thủy Tinh. Dưới nhãn quan này Miệng muốn xứng với danh hiệu Thủy Tinh đắc thế thì hai Môi phải chủ về vuông vắn, ngậm Miệng thì trông nhỏ há Miệng thì rộng lớn. Nhân Trung thì phải sâu và dài, răng phải đều thì quan lộc mới thịnh vượng. Nếu Môi hếch răng hô, hoặc lộ xỉ, lởm chởm, khóe Miệng cong vòng xuống dưới là số nghèo hèn.

Trong tướng học cổ vẫn dùng các thuật ngữ cổ mà ngày nay ít đươc lưu ý thì Miệng được gọi là Trung tín học đường (lưỡi được gọi là Quảng đức học đường) với ý nghĩa đạo đức ngụ ý là Miệng người quân tử đã nói ra là để diễn đạt những gì thủy chung hoặc đáng tin cậy.

2. Các đặc thái của Miệng – Miệng Và Môi Trong Nhân Tướng Học

Dưới nhãn quan tướng học tổng quát Môi, Lưỡi, Răng đều thuộc về Miệng. Chẳng những vậy, các bộ phận nhỏ khác thuộc khu vực quanh Miệng có liên quan xa dần đến Miệng đều được tế phân thành những khu vực rất nhỏ
với những tên riêng và cũng đều được xếp chung vào phạm vi mạng vận liên quan đến Miệng.

==> Cùng chiêm ngưỡng cách bày phong thủy từ nhiều mẫu nội thất biệt thự tân cổ điển rất hợp lý mà bạn nên xem!

2.1  Các bộ vị của Miệng – Miệng Và Môi Trong Nhân Tướng Học

– Hai khóe Miệng được gọi là Hải Giác.

– Phần tiếp giáp với Môi dưới (ở ngay chính giữa) được gọi là Thừa Tương.

– Môi trên gọi là Kim Phúc.

– Môi dưới gọi là Kim Tải.

Cũng vì lý do đó mà toàn thể Môi nói chung được gọi là Phúc Tải. Hai bên Hải Giác phải đều đặn hoặc cong lên hoặc thành đường ngang chứ không nên chúc xuống. Trường hợp cúp xuống phía dưới, danh từ chuyên môn tướng học gọi là Miệng Thuyền lật, tượng trưng cho hậu vận long đong bất trắc. Hai phần Kim Tải và Kim Phúc phải cân xứng và tươi mát. Hai phần

Thực Thương và Thừa Tương cũng vậy. Nếu tất cả các bộ vị của Miệng đều thỏa đáng các điều kiện trên thì gọi là Xuất nạp quan thành tựu

2.2 Nguyên tắc thực tiễn để biết các đặc thái của Miệng – Miệng Và Môi Trong Nhân Tướng Học

Miệng rộng, hẹp

Miệng rộng, hẹp không có tiêu chuẩn khách quan mà chỉ dựa vào tiêu chuẩn chủ quan (nghĩa là chỉ dựa vào tỷ lệ của cá nhân được xem xét mà thôi). Muốn biết Miệng của một người rộng hay hẹp một cách tương đối so với bản thân của đương sự, ta có thể dựa vào các ngón tay của người đó.

Dùng ba ngón tay (ngón trỏ, ngón giữa, và ngón áp út) xếp lại liền nhau làm tiêu chuẩn so sánh; Nếu người đó ngậm Miệng lại tự nhiên mà bề ngang bằng tiêu chuẩn vừa kể thì đó là loại Miệng trung bình. Dài hơn ba ngón tay là Miệng rộng; ngắn hơn ba ngón tay là Miệng hẹp.

Ngoài phương pháp kể trên, một số tác giả hiện còn cho rằng có thể căn cứ vào bề ngang của hai cánh mũi để làm tiêu chuẩn xác định rộng hẹp của Miệng. Từ hai cánh mũi ta kẻ hai đường song song xuống tận Cằm, nếu hai đường đó mà chưa chạm hai khóe Miệng thì đấy là Miệng rộng và ngược lại. Tuy nhiên cách này không chính xác lắm vì bề ngang của hai cánh mũi biến thiên thường xuyên nên dùng làm tiêu chuẩn không được chính xác.

Môi dầy mỏng

Môi được coi là trung bình tương xứng trong phạm vi đối chiếu với các bộ vị quan trọng của khuôn mặt là khi bề ngang của Môi (tính từ ranh giới của Nhân Trung tới vạch của Miệng- Môi trên; hoặc từ vạch ngang của Miệng tới Thừa Tương – Môi dưới) vừa bằng hoặc xấp xỉ bề ngang của ngón tay trỏ. Trên mức độ đó là Môi dây, dưới phải được xem là Môi mỏng.

Lăng, Giác của Miệng

Lăng Giác của Miệng là tiếng chuyên môn của nhân tướng học Trung Hoa rất khó tìm được tiếng tương đương trong Việt ngữ. Theo định nghĩa, Miệng được gọi là Lăng khi phần nổi cao hơn phần ranh giới của Miệng so với các bộ vị khác bao quanh.

Còn Giác tức là Hải Giác, Miệng được coi là có Giác khi mím Miệng lại một cách tự nhiên khóe Miệng vạch thành sợi chỉ ngang khá rõ rệt. (h150/1)

Ngược lại các điều kể trên thì coi là Miệng không có Lăng Giác (h150/2).

Môi và miệng trong nhân Tướng Học – “Nhân Tướng Học”

5 (100%) 1 vote[s]

Leave a Reply